HÌNH ẢNH CỘNG ĐỒNG 54 DÂN TỘC VIỆT NAM

Cập nhật lúc: 14:32 23/11/2017

LỜI GIỚI THIỆU

Phó Giáo sư - Phó Tiến Sỹ: Hoàng Nam 

Việt Nam - tổ quốc của nhiều dân tộc. Các dân tộc cùng là con cháu của Lạc Long Quân - Âu Cơ, nở ra từ trăm trứng, nửa theo mẹ lên núi, nửa theo cha xuống biển, cùng mở mang xây dựng non sông "Tam sơn, tứ hải, nhất phần điền", với rừng núi trùng điệp, đồng bằng sải cánh cò bay và biển Đông bốn mùa sóng vỗ; bờ cõi liền một dải từ chỏm Lũng Cú (Bắc) đến xóm Rạch Tàu (Nam), từ đỉnh Trường Sơn (Tây) đến quần đảo Trường Sa (Đông).

Cùng chung sống lâu đời trên một đất nước, các dân tộc có truyền thống yêu nước, đoàn kết giúp đỡ nhau trong chinh phục thiên nhiên và đấu tranh xã hội, suốt quá trình lịch sử dựng nước, giữ nước và xây dựng phát triển đất nước.

Lịch sử chinh phục thiên nhiên là bài ca hùng tráng, thể hiện sự sáng tạo và sức sống mãnh liệt, vượt lên mọi trở ngại thích ứng với điều kiện tự nhiên để sản xuất, tồn tại và phát triển của từng dân tộc. Với điều kiện địa lý tự nhiên (địa mạo, đất đai, khí hậu...) khác nhau, các dân tộc đã tìm ra phương thức ứng xử thiên nhiên khác nhau.

ở đồng bằng và trung du, các dân tộc làm ruộng, cấy lúa nước, dựng nên nền văn hoá xóm làng với trung tâm là đình làng, giếng nước cây đa, bao bọc bởi luỹ tre gai góc đầy sức sống dẻo dai. Đồng bằng, nghề nông, xóm làng là nguồn cảm hứng, là "bột" của những tấm áo mớ ba mớ bảy, của dải yếm đào cùng nón quai thao, của làn điệu quan họ khoan thai mượt mà và của khúc dân ca Nam Bộ ngân dài chứa đựng sự mênh mông của đồng bằng sông Cửu Long.

ở vùng thấp của miền núi, các dân tộc trồng lúa nước kết hợp với sản xuất trên khô để trồng lúa nương, trồng ngô, bước đầu trồng các cây công nghiệp lâu năm (cây hồi, cây quế...), thay thế cho rừng tự nhiên. Họ sống trên những nếp nhà sàn, mặc quần, váy, áo màu chàm với nhiều mô típ hoa văn mô phỏng hoa rừng, thú rừng. Đồng bào có tục uống rượu cần thể hiện tình cảm cộng đồng sâu sắc. Người uống ngây ngất bởi hơi men và đắm say bởi tình người.

ở vùng cao Việt Bắc, Tây Nguyên, đồng bào chọn phương thức phát rừng làm rẫy - là cách ứng xử thiên nhiên của thời đại tiền công nghiệp. Vùng cao, khí hậu á nhiệt đới, việc trồng trọt chủ yếu thực hiện trong vụ hè thu. Để tranh thủ thời tiết và quay vòng đất, từ ngàn xưa người vùng cao đã phát triển xen canh gối vụ, vừa tăng thu nhập vừa bảo vệ đất khỏi bị xói mòn bởi những cơn mưa rào mùa hạ. Bàn tay khéo léo và tâm hồn thẩm mỹ của các cô gái đã tạo ra những bộ trang phục: váy, áo với những hoa văn sặc sỡ hài hoà về mầu sắc, đa dạng về mô típ, mềm mại về kiểu dáng, thuận cho lao động trên nương, tiện cho việc đi lại trên đường đèo, dốc. Núi rừng hoang sơ cùng với phương thức canh tác lạc hậu là mảnh đất phát sinh và phát triển các lễ nghi đầy tính huyền bí, huyền ảo. Hầu hết các cư dân Tây Nguyên đều có tục đâm trâu làm lễ cúng Giàng (trời), cầu xin sự phù hộ của Giàng cho người sức khoẻ, cho gia súc và cho mùa màng bội thu. Đây cũng là vùng tiềm ẩn nhiều truyện thần thoại, nhiều sử thi anh hùng mà giá trị của nó có thể sánh được với các truyện thần thoại của Trung Quốc, ấn Độ nhưng chưa được sưu tầm và nghiên cứu đầy đủ. Đồng bào là chủ nhân sáng tạo ra những bộ đàn đá, đàn T'rưng, đàn Krông pút... những bộ cồng chiêng và những điệu múa tập thể dân dã, khẻo khoắn kết bó cộng đồng.

Dọc theo bờ biển từ Bắc vào Nam, các dân tộc sống bằng nghề chài lưới. Cứ sáng sáng đoàn thuyền của ngư dân giăng buồm ra khơi, chiều lại quay về lộng. Cuộc sống ở đây cũng nhộn nhịp, khẩn trương như nông dân trên đồng ruộng ngày mùa.

Ở  khắp nơi, con người hoà nhập vào thiên nhiên, thiên nhiên cũng biết chiều lòng người, không phụ công sức người.

Sống trên mảnh đất Đông Dương - nơi cửa ngõ nối Đông Nam á lục địa với Đông Nam á hải đảo, Việt Nam là nơi giao lưu của các nền văn hoá trong khu vực. ở đây có đủ 3 ngữ hệ lớn trong khu vực Đông Nam á, ngữ hệ Nam đảo, và ngữ hệ Hán - Tạng. Tiếng nói của các dân tộc Việt Nam thuộc 8 nhóm ngôn ngữ khác nhau.

Nhóm Việt - Mường có 4 dân tộc là: Chứt, Kinh, Mường, Thổ.

Nhóm Tày - Thái có 8 dân tộc là: Bố Y, Giáy, Lào, Lự, Nùng, Sán Chay, Tày, Thái.

Nhóm Môn - Khmer có 21 dân tộc là: Ba na, Brâu, Bru-Vân kiều, Chơ-ro, Co, Cơ-ho, Cơ-tu, Gié-triêng, Hrê, Kháng, Khmer, Khơ mú, Mạ, Mảng, M'Nông, Ơ-đu, Rơ-măm, Tà-ôi, Xinh-mun, Xơ-đăng, Xtiêng.

Nhóm Mông - Dao có 3 dân tộc là: Dao, Mông, Pà thẻn.

Nhóm Kađai có 4 dân tộc là: Cờ lao, La Chí, La ha, Pu péo.

Nhóm Nam đảo có 5 dân tộc là: Chăm, Chu-ru, Ê đê, Gia-rai, Ra-glai.

Nhóm Hán có 3 dân tộc là: Hoa, Ngái, Sán dìu.

Nhóm Tạng có 6 dân tộc là: Cống, Hà nhì, La hủ, Lô lô, Phù lá, Si la.

Mặc dù tiếng nói của các dân tộc thuộc nhiều nhóm ngôn ngữ khác nhau, song do các dân tộc sống rất xen kẽ với nhau nên một dân tộc thường biết tiếng các dân tộc có quan hệ hàng ngày, và dù sống xen kẽ với nhau, giao lưu văn hoá với nhau, nhưng các dân tộc vẫn lưu giữ được bản sắc văn hoá riêng của dân tộc mình. ở đây cái đa dạng của văn hoá dân tộc được thống nhất trong quy luật chung - quy luật phát triển đi lên của đất nước, như cái riêng thống nhất trong cái chung của cặp phạm trù triết học.

Thời đại Hồ Chí Minh mở đầu bằng thắng lợi của cách mạng tháng 8/1945 đã đổi đời các dân tộc. Chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta nhất quán từ đầu là bình đẳng, đoàn kết, tương trợ lẫn nhau, cùng nhau xây dựng đất nước theo mục tiêu: dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng văn minh, văn hoá đậm đà bản sắc dân tộc.

Thực hiện chính sách dân tộc đúng đắn và sáng tạo trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội, chúng ta đã đạt được những thành tựu rất to lớn, rất mới mẻ, rất hiện đại. Cơ sở hạ tầng đặc biệt là giao thông đường bộ, thuỷ lợi, viễn thông đã phát triển đến tuyến huyện và đang chuyển dần về xã, bản, nhanh, chậm tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể của từng vùng. Với tư cách là người làm chủ đất nước, các dân tộc tham gia vào cơ quan quyền lực Nhà nước ngày càng nhiều, cao hơn. Đội ngũ cán bộ khoa học - kỹ thuật được Đảng và Nhà nước quan tâm đào tạo. Số cán bộ có trình độ đại học và trên đại học ngày càng tăng trong các dân tộc. Vốn văn hoá, nghệ thuật cổ truyền của các dân tộc được sưu tầm, bảo tồn, nghiên cứu, phát huy.

Thực hiện thắng lợi chính sách dân tộc của Đảng, các dân tộc vốn gắn bó với nhau trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước, nay lại càng gắn bó đoàn kết với nhau hơn trong công cuộc xây dựng đất nước. Những thành tựu đạt được trên là cơ sở vững chắc góp phần củng cố khối đại đoàn kết dân tộc, nâng cao dân trí, nâng cao đời sống, phát triển các dân tộc.

DANH MỤC THÀNH PHẦN CÁC DÂN TỘC VIỆT NAM
(kèm theo dân số các dân tộc)

Số TT

Dân tộc

Tên tự gọi

Tên gọi khác

Nhóm địa phương

Dân số

Tổng Đ.T
(1.4.1999)

Ước tính
(1.7.2003)

1

Ba na

Ba Na

BơNâm, Roh, Kon Kđe, Ala Kông, Kpang Kông

Rơ Ngao, Rơ Lơng (Y Lăng), Tơ Lô, Gơ Lar, Krem

174.456

190.259

2

Bố y

Bố Y

Chủng Chá, Trọng Gia...

Bố Y và Tu Dí

1.864

2059

3

Brâu

 

Brao

 

313

350

4

Bru - Vân Kiều

Bru

Bru, Vân Kiều

Vân Kiều, Trì, Khùa, Ma Coong

55.559

62.954

5

Chăm (chàm)

 

Chàm, Chiêm, Chiêm thành, Chăm Pa, Hời...

Chăm Hroi, Chăm Pông, Chà Và Ku, Chăm Châu Đốc

132.873

148.021

6

Chơ ro

 

Châu Ro, Dơ Ro, Chro, Thượng

 

22.567

26.455

7

Chu ru

 

Chơ Ru, Kru, Thượng

 

14.978

16.972

8

Chứt

Chứt

Rục, Arem, Sách.

Mày, Rục, Sách, Arem, Mã Liềng

3.829

3.787

9

Co

Cor, Col

Cua, Trầu

 

27.766

29.771

10

Cống

Xám Khống, Phuy A

   

1.676

1.859

11

Cơ ho

Cơ Ho

 

Xrê, Nộp (Tu Nốp), Cơ Dòn, Chil, Lát (Lách), Tơ Ring.

128.723

145.857

12

Cơ Lao

Cờ Lao

Tứ Đư, Ho Ki, Voa Đề.

Cờ Lao Xanh, Cờ Lao Trắng, Cờ Lao Đỏ

1.865

2.034

13

Cơ tu

Cơ Tu

Ca Tu, Ka Tu

 

50.458

56.690

14

Dao

Kìm Miền, Kìm Mùn

Mán

Dao Đỏ, Dao Quần Chẹt, Dao Lô Gang, DaoTiền, Dao Quần trắng, Dao Thanh Y, Dao Làn Tẻn

620.538

685.432

15

Ê đê

Anăk Ê Đê

Anăk Ê Đê, Ra Đê, Ê Đê-Êgar, Đê

Kpă, Adham, Krung, Mđhu, Ktul, Dliê, Hruê, Bih, Blô, Kah, Kdrao, Dong Kay, Dong Mak, Ening, arul, Hwing, Ktlê, Êpan

270.348

306.333

 
16

Giáy

Giáy

Nhắng, Giảng

 

49.098

54.002

17 Gia rai

Gia Rai

Giơ Ray, Chơ Ray

Chor, Hđrung (gồm cả Hbau, Chor), Aráp, Mthur, Tơbuân

317.557

350.766

18

Giẻ - Triêng

Gié, Triêng, Ve, Bnoong

Cà Tang, Giang Rẫy

Gié (Giẻ),Triêng,Ve, Bnoong (Mnoong)

30.243

31.343

19

Hà nhì

Hà Nhì Già

U Ní, Xá U Ní

Hà Nhì Cồ Chồ, Hà Nhì La Mí, Hà Nhì Đen

17.535

 

19.954

20

 

Hoa (Hán)

 

 

Khách, Hán, Tàu

 

Quảng Đông, Quảng Tây, Hải Nam, Triều Châu, Phúc Kiến, Sang Phang, Xìa Phống, Thảng Nhằm, Minh Hương, Hẹ...

862.371

 

913.248

 

21

H’rê

Hrê

Chăm Rê, Chom, Thượng Ba Tơ, Luỹ, Sơn Phòng, Đá Vách, Chăm Quảng Ngãi,Chòm, Rê, Man Thạch Bích.

 

113.111

 

120.251

 

22

Hmông (Mèo)

Hmông, Na miẻo

Mẹo, Mèo, Miếu Ha, Mán Trắng

Hmông Trắng, Hmông Hoa, Hmông Đỏ, Hmông Đen, Hmông Xanh, Na miẻo

787.604

 

896.239
23

Kinh (Việt)

 

Kinh

 

65.795.718

69.356.969

24

Kháng

Mơ Kháng

Háng, Brển, Xá

Kháng Dẩng, Kháng Hoặc, Kháng Dón, Kháng Súa, Ma Háng, Bủ Háng, Ma Háng Bén, Bủ Háng Cọi

10.272

 

15.213

 

25

Khmer

Khmer

Cur, Cul, Cu, Thổ, Việt gốc Miên, Khmer K'rôm

 

1.055.174

 

1.112.286

 

26

Khơ mú

Kmụ, Kưm Mụ

Xá Cẩu, Khạ Klẩu, Măng Cẩu, Tày Hạy, Mứn Xen, Pu Thềnh, Tềnh

 

56.542

 

62.721

 

27

La chí

Cù Tê

Thổ Đen, Mán, Xá

 

10.765

12.095

28

La ha

La Ha, Klá Plạo

Xá Cha, Xá Bung, Xá Khao, Xá Táu Nhạ, Xá Poọng, Xá Uống, Bủ Hả, Pụa

La Ha cạn (Khlá Phlao), La Ha nước (La Ha ủng)

 

5.686

 

6.388

 

29

La hủ

La Hủ

Xá lá vàng, Cò Xung, Khù Sung, Kha Quy, Cọ Sọ, Nê Thú

La hủ na (đen), La-hủ sư (vàng) và La-hủ phung (trắng)

6.874

 

7.561

 

30

Lào

Thay, Thay Duồn, Thay Nhuồn

Phu Thay, Phu Lào

 

Lào Bốc (Lào Cạn), Lào Nọi (Lào Nhỏ)

11.611

 

12.379

31

Lô lô

Lô Lô

Mùn Di, Di, Màn Di, La Ha, Qua La, Ô man, Lu Lộc Màn

Lô Lô hoa, Lô Lô đen

 

3.307

 

3.327

 

32

Lự

Lừ, Thay, Thay Lừ.

Phù Lừ, Nhuồn, Duồn

Lự Đen (Lự Đăm), Lự Trắng (ở Trung Quốc)

4.964

5.553

33

Mạ

Mạ

Châu Mạ, Chô Mạ, Chê Mạ

Mạ Ngăn, Mạ Xốp, Mạ Tô, Mạ Krung

33.338

36.824

 

 
34

Mảng

Mảng

Mảng Ư, Xá Mảng, Niểng O, Xá Bá O

Mảng Gứng, Mảng Lệ

2.663

2.634

35 Mường

Mol (Mon, Moan, Mual)

 

Ao Tá (Âu Tá), Bi

1.137.515

1.230.054

36

Mnông

Mnông

 

 

Mnông Gar, Mnông Nông, Mnông Chil, Mnông Kuênh, Mnông Rlâm, Mnông Preh, Mnông Prâng, Mnông Đíp, Mnông Bu Nor, Mnông Bu Đâng, Mnông Bu Đêh...

92.451

 

104.312

 

37

Ngái

Sán Ngải

Ngái Hắc Cá, Ngái Lầu Mần, Hẹ, Sín, Đản, Lê, Xuyến

 

4.841

 

7.386

 

38

Nùng

Nồng

 

Nùng Giang, Nùng Xuồng, Nùng An, Nùng Inh, Nùng Lòi, Nùng Cháo, Nùng Phàn Slình, Nùng Quy Rịn, Nùng Dín

856.412

 

914.350

 

39 Ơ đu

Ơ Đu, I Đu

Tày Hạt

 

301

370

40

Pà thẻn

Pà Hưng

Mèo Lài, Mèo Hoa, Mèo Đỏ, Bát tiên tộc...

 

5.569

6.529

 

41

Phù lá

Lao Va Xơ, Bồ Khô Pạ, Phù Lá

Xá Phó, Cần Thin

 

Phù Lá Lão-Bồ Khô Pạ, Phù Lá Đen, Phù Lá Hán.

9.046

 

8.947

42

Pu Péo

Kabeo

La Quả, Penti Lô Lô

 

705

900

43

Raglay

   

Rai, Hoang, La Oang

96.931

108.442

44

Rơ măm

     

352

418

45

Sán chay (Cao lan-Sán chỉ)

Sán Chay

 

Hờn Bán, Chùng, Trại...

Cao Lan, Sán Chỉ

 

147.315

 

162.031

 

46

Sán dìu

San Déo Nhín ( Sơn Dao Nhân)

Trại, Trại Đất, Mán Quần Cộc, Mán Váy xẻ

 

126.237

 

140.629

 

47

Si la

Cù Dề Sừ

Kha Pẻ

 

840

1.006

48

Tày

 

Thổ

Thổ, Ngạn, Phén, Thu Lao, Pa Dí.

1.477.514

1.597.712

49

Tà ôi

 

Tôi Ôi, Pa Cô, Tà Uốt, Kan Tua, Pa Hi ...

Tà Ôi, Pa Cô, Pa Hi

 

34.960

 

38.946

 

50

Thái

Tay, Thay

Tay Thanh, Man Thanh, Tay Mười, Tay Mường, Hàng Tổng, Tay Dọ, Thổ

Ngành Đen (Tay Đăm). Ngành Trắng (Tay Đón hoặc Khao)

1.328.725

 

1.449.084

 

51

Thổ

Thổ

Người Nhà làng. Mường, Con Kha, Xá Lá Vàng

Kẹo, Mọn, Cuối, Họ, Đan Lai, Li Hà, Tày Poọng

68.394

 

76.191

 

52

Xinh mun

Xinh Mun

Puộc, Xá, Pnạ

Xinh Mun Dạ, Xinh Mun Nghẹt.

18.018

21.946

53

Xê đăng

Xơ Teng, Tơ Đrá, Mnâm, Ca Dong, Ha Lăng, Tà Trĩ., Châu

Xê Đăng, Kmrâng, Con Lan, Brila.

 

Xơ Trng, Tơ Đrá, Mnâm. Ca Dong, Ha Lăng, Tà Trĩ, Châu.

 

127.148

 

140.445

54

X’tiêng

 

Xa Điêng, Xa Chiêng

Bù Lơ, Bù Đek (Bù Đêh), Bù Biêk.

66.788

74.402

Nguồn: web.cema.gov.vn/